Dữ liệu đã mã hóa khi đưa vào xử lý phải được giải mã. Điều này tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cho dữ liệu quan trọng của các doanh nghiệp trong quá trình xử lý mà phương thức mã hóa không thể giải quyết được Sự cần thiết của mặt nạ dữ liệu Dữ liệu trong môi trường lưu trữ để đảm bảo an toàn thường được m. hóa cẩn thận. Tuy nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển, nhiều doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật các bản vá lỗi, chu kỳ nâng cấp hay kiểm tra, phát triển các phần mềm giải pháp công nghệ thông tin. Trong quá tr.nh đó cần phải có dữ liệu đầu vào để quá trình kiểm thử, phát triển được “gần” với thực tế nhất. Nhiều doanh nghiệp lựa chọn hình thức dùng dữ liệu lịch sử (dữ liệu thật) hiện đang được lưu trữ hoặc tự tạo dữ liệu mô phỏng để sử dụng cho mục đích đó. Và cách thức nào cũng tồn tại nhược điểm khó tránh. Nếu tự tạo dữ liệu mô phỏng, doanh nghiệp sẽ cần khá nhiều thời gian nếu như hệ thống phần mềm giải pháp đòi hỏi một lượng lớn dữ liệu đầu vào lớn và dữ liệu nhiều thành phần phức tạp. Không những thế, nếu đối tượng dữ liệu mô phỏng có dù chỉ một thuộc tính khác với thuộc tính của dữ liệu thật th. nguy cơ ảnh hưởng tới kết quả của quá trình kiểm thử, phát triển phần mềm là rất lớn. Nhưng nếu sử dụng dữ liệu lịch sử, doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ rò rỉ dữ liệu nhạy cảm. Dù đối tượng kiểm thử, phát triển phần mềm là nhân viên hay các đối tác (trong trường hợp out-source) thì cũng hết sức nguy hiểm nếu như những dữ liệu đó chứa các thông tin quan trọng như các giao dịch tài chính, thông tin cá nhân của khách hàng… Trong trường hợp này, việc trang bị hệ thống tường lửa, phát hiện và ngăn chặn xâm nhập… không giúp cho dữ liệu của bạn an toàn hơn v. hiểm họa được bắt nguồn từ bên trong. Một cuộc khảo sát gần đây của h.ng nghiên cứu bảo mật Symantec cho biết, có đến hơn 50% số nhân viên cũ thừa nhận họ đã ăn trộm dữ liệu của công ty cũ trước khi thôi việc bằng các thiết bị như ổ USB và 2/3 trong số đó đã qua mặt được các ông chủ.
Điểm quan trọng nhất của “mặt nạ dữ liệu” là nó sẽ giúp cho các doanh nghiệp quên đi nỗi lo mất trộm từ chính các nhân viên của mình. Những vụ tấn công đang đến từ bên ngoài. Điều đó đúng nhưng chúng cũng xuất hiện từ ngay trong lòng mỗi công ty và thật tồi tệ là kiểu tấn công này đang ngày càng nghiêm trọng hơn.
Joseph Feiman, chuyên gia bảo mật – Gartner
Các xu hướng an toàn dữ liệu trong năm 2009
Thứ sáu, 23 Tháng 10 2009 10:15
tran thuy duong
Không nghi ngờ gì nữa, 2007 - 2008 là những năm mà liên tiếp các vụ mất dữ liệu lớn xuất hiện trên trang nhất các báo với nhiêu tin gật gân. TJX nổi bật trong năm 2007 với vụ đánh cắp dữ liệu lớn nhất trong lịch sử - một khối lượng khổng lồ 45.7 triệu bản ghi đã bị lấy đi khi những hacker thâm nhập vào mạng lưới công ty trong hơn 18 tháng. Và còn rất nhiều vụ đánh cắp quy mô lớn nữa, như là âm mưu lấy trộm tại một phòng nghiên cứu thí nghiệm quân sự và hai chiếc đĩa chưa được mã hóa của chính phủ Anh gần đây.
1. Tình hình an ninh, an toàn thông tin
Các tổ chức bị ảnh hưởng cũng chịu tổn thất rất lớn cho những vụ mất cắp này. Một nghiên cứu gần đây được thực hiên bởi Ponemon Instutue khẳng định rằng tổng chi phí trung bình cho việc thất thoát hay bị tiết lộ dữ liệu lên tới 197 USD cho mỗi file, tăng hơn 8% so với năm 2006 và 43% kể từ năm 2005. Hiện nay, tổng thiệt hại trung bình cho các công ty là 6.3 triệu USD cho mỗi vụ thất thoát, khiến chi phí cho các vấn đề pháp lý và quan hệ công chúng tăng lên cũng như có nguy cơ bị phá sản. Một chuyên gia cảnh bảo rằng lượng chi phí mà các công ty phải trả sau những vụ thất thoát dữ liệu sẽ tiếp tục tăng. Xu hướng bảo mật thông tin Các chuyên gia bảo mật nói rằng chúng ta có thể sẽ được
Không có thắc mắc gì khi tất cả những vụ mất cắp này đang khiến mọi người nghĩ lại sự ưu tiên của họ về bảo mật. Mọi người đang nói “Hãy lùi lại và nhận ra dữ liệu của chúng ta đang bị vây hãm, Những giá trị nào ta cần bảo vệ và chúng ở đâu?”.
Ted Julian, phó chủ tịch marketing và bảo mật choApplication Security
Mặc dù ở Việt Nam chưa có những vụ tấn công gây thiệt hại lớn nhưng cần biết đến những thống kê thiệt hại như riêng virus chẳng hạn cũng lên tới hàng trăm, triệu USD... Ngoài ra đối với những cơ sở dữ liệu nhạy cảm như cơ quan đảng nhà nước mà bị làm sai lệch dữ liệu chứ chưa phải là ăn cắp dữ liệu thì đã dẫn đến hậu quả rất là nghiêm trọng.
ông Vũ Duy Khánh, Giám đốc Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam- VNCERT
2. Xu hướng bảo mật thông tin
Các chuyên gia bảo mật nói rằng chúng ta có thể sẽ được thấy những thay đổi từ các công ty trong cách họ bảo vệ dữ liệu và giải quyết những mất mát trong năm 2009. Với việc đề cao cảnh giác, và mong muốn không để tên của mình phải xuất hiện trên các trang báo, nhiều công ty sẽ tăng cường công nghệ bảo mật, đầu tư việc đào tạo nhân viên... Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp ngày càng nhận thức được rủi ro về dữ liệu, hackers cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm những cách mới để tấn công. Các chuyên gia bảo mật tin chắc rằng cơ sở dữ liệu vẫn sẽ là mục tiêu chính. Trong khi đó, có những mối hiểm họa lớn nhất đối với dữ liệu lại đến từ chính bên trong các công ty và thường không được để ý đến.
3. Dữ liệu đang trở thành tâm điểm
Ngay cả khi đề cao cảnh giác và áp dụng những biện pháp bảo mật phức tạp, các chuyên gia nói rằng chúng ta có thể thấy nhiều vụ mất cắp dữ liệu xuất hiện trên các tiêu đề trong năm tới - chủ yếu v. nhiều công ty và tổ chức buộc
phải công bố ra công chúng khi chuyện đó xảy ra.
“Không phải là sẽ xuất hiện thêm nhiều vụ mất cắp, chỉ là chúng sẽ được công khai nhiều hơn thôi” – Faizel Lakhani, phó chủ tịch quảng bá sản phẩm cho Reconnex nói .”Tôi nghĩ đã có rất nhiều vụ mất cắp xảy ra nhưng chúng không được công khai bởi họ không bị yêu cầu làm như vậy”. “Đã có nhiều công trình nghiên cứu nói rằng khách hàng không muốn làm việc với các công ty đã từng bị mất cắp” – David Vergara, giám độc quảng bá sản phẩm bảo mật dữ liệu cho CheckPoint. “Sẽ rất đau lòng nếu bạn không có khả năng điều khiển và bảo vệ các thông tin nhạy cảm”.
Đó không chỉ là dữ liệu. Bạn phải phân loại mọi thứ với viễn cảnh có thể gặp rủi ro. Một khi bạn đã đặt các hệ thống kiểm soát vào vị trí, khả năng bị mất dữ liệu sẽ giảm đi rất nhiều.
Brian Cleary, phó chủ tịch marketing của doanh nghiệp quản lý kết nối Aveska
4. Kho báu từ thông tin
Trong khi các cuộc tấn công cá nhân vẫn c.n đang phổ biến, các chuyên gia dự đoán rằng những tên trộm sẽ ngày càng săn tìm những thông tin nhạy cảm hoặc nhận dạng ngay tại nguồn tin - cơ sở dữ liệu - mà đó có thể là một mỏ vàng thật sự như thẻ tín dụng, chứng minh nhân dân và những thông tin nhận dạng cá nhân khác. Bởi vậy, bảo vệ cơ sở dữ liệu trở thành một vấn đề khá quan trọng đối với các doanh nghiệp trong năm tới. Các chuyên gia cho rằng vần đề này có thể đặt ra những trở ngại rất lớn đối với những doanh nghiệp có hàng tá, nếu không nói là hàng trăm, các cơ sỡ dữ liệu mà nhân viên bảo mật chưa được biết. Năm 2009, các doanh nghiệp lớn cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tăng cường đầu tư vào các giải pháp bảo mật dữ liệu, bao gồm các công nghệ quản lý thông tin và giảm thiểu lượng dữ liệu lọt ra khỏi mạng lưới an toàn.
5. Trang mạng xã hội và các cuộc tấn công bậc hai
Theo sau các xu hướng trong năm 2008, trang mạng xã hội như MySpace và Facebook sẽ tiếp tục là mục tiêu chính của các cuộc mất cắp dữ liệu, khi chúng ngày càng trở nên phổ biến và được sử dụng trên các máy tính công sở. Các chương trình như Storm Worm và các Trojan khác sẽ là các công cụ mà các tên trộm sử dụng để lấy các thông tin nhạy cảm và nhận dạng cá nhân từ những người dùng bất cẩn.
Trong khi các tổ chức và những doanh nghiệp lớn khác cũng sẽ là mục tiêu, các nhà nghiên cứu bảo mật dự đoán sẽ có nhiều làn sóng tấn công vào những cơ sở kinh doanh nhỏ hơn, bậc hai trong năm 2009, khi những doanh nghiệp lớn hơn đang điều chỉnh các biện pháp bảo mật sao cho phù hợp để đối phó với những nguy hiểm đang tồn tại. Các chuyên gia cho rằng các doanh nghiệp nhỏ hơn sẽ là mục tiêu hấp dẫn bởi họ nói chung không bị chú. bởi các phương tiện truyền thông và có lẽ không được trang bị đầy đủ để chống lại các cuộc tấn công tinh vi.
6. Phân loại dữ liệu
Hầu hết các doanh nghiệp đều có rất nhiều dữ liệu mà họ không biết phải làm gì với chúng. Để quản lý lượng thông tin khổng lồ đó, các công ty sẽ phải tăng cường sắp xếp các nguồn thông tin - quyết định dữ liệu nào cần bảo vệ và dữ liệu nào đối với công ty chỉ là một gánh nặng. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ có khả năng đầu tư vào đánh giá và quản lý rủi ro bảo mật trong năm 2009. Đối với các doanh nghiệp, điều đó có nghĩa là xây dựng một hệ thống bảo mật dữ liệu và phát triển một hệ thống ưu tiên cho các thông tin quan trọng nhất để xác định dữ liệu nào mà những tên hacker trong tương lai sẽ lấy làm mục tiêu.
Bên cạnh thẻ tín dụng và số chứng minh nhân dân, các chuyên gia bảo mật dự đoán nhiều công ty sẽ thêm các tài sản trí tuệ, cũng như những thông tin có thể ảnh hưởng tới giá trị cố phiếu của họ, vào danh sách những thông tin quan trọng. Một trở ngại lớn đe dọa các tổ chức là họ tin rằng họ biết những dữ liệu nào là quan trọng, biết ai nên và không nên xem nó mặc dù thực tế không hoàn toàn như vậy. Các hãng bán Data Leak Prevention – DLP (giải pháp ngăn chặn rò rỉ dữ liệu) cũng sẽ giới thiệu những công cụ giúp các công ty biết được các thông tin quan trọng nhất nằm ở đâu, và thông tin nào bị rò rỉ ra ngoài và tới tay ai.
Làm sao phải đảm bảo hoạt động cho hạ tầng mạng, rồi nâng cấp máy tính, máy chủ đã khiến các doanh nghiệp lo lắng. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy là đầu tư cho bảo mật dữ liệu còn quan trọng hơn nhiều.
ông Clarence Phua, công ty Sophos
7. Những tác nhân ngẫu nhiên của một thảm họa
Mặc dù các mối nguy hiểm từ bên ngoài luôn là một trở ngại, các cuộc nghiên cứu lại chứng minh rằng những mỗi nguy hiểm lớn nhất từ trước đến nay đối với thông tin của một công ty thường xuất hiện từ những lỗi đơn giản do con người tạo ra. Một cuộc khảo sát gần đây được tiến hành bởi RSA, một nhà cung cấp các giải pháp bảo mật cho các doanh nghiệp, chỉ ra rằng một trong những vụ mất cắp lớn nhất trong năm 2009 sẽ đến từ ngay chính bên trong công ty đó và thường là một sự sơ. nào đó. Khi càng nhiều dữ liệu đang hoạt động, những vụ mất cắp sẽ xảy ra khi nhân viên thực hiện những hành động mang tính rủi ro, mặc dù họ đã chú ý cẩn thận, như là gửi các tài liệu công việc cho những địa chỉ thư điện tử cá nhân, hoặc kết nối email từ máy tính cá nhân. Nghiên cứu của RSA cho biết những sự thay đổi vị trí công việc đóng vai trò quan trọng trong việc khiến các dữ liệu bị lấy cắp. Một con số lớn - 72% người tham gia – nói rằng công ty hay tổ chức của họ thường thuê những nhân công tạm thời hay người làm theo hợp đồng có công việc đòi hỏi phải truy cập những thông tin hay hệ thống quan trọng. Việc tăng cường các nguồn nhân công từ bên ngoài sẽ tạo nhiều cơ hội cho việc rò rỉ thông tin và các chuyên gia bảo mật dự đoán nhiều cuộc mất thông tin cuối cùng cũng sẽ tìm ra được thủ phạm là nhân công bên ngoài hay làm hợp đồng. Bên cạnh đó, gần 25% người tham gia cuộc khảo sát nói rằng họ đã từng truy cập vào những vùng mạng lưới công ty mà lẽ ra họ không nên vào và 33% nói họ vẫn truy cập vào các tài khoản cũ sau khi thay đổi vị trí làm việc. Bởi vậy, các chuyên gia bảo mật cho rằng việc các doanh nghiệp thực hiện các cuộc kiểm tra định kỳ đối với sự thay đổi công việc để hiểu những người sử dụng, vai trò của họ và những thông tin nào họ có thể truy cập sẽ ngày càng trở nên cần thiết. Họ cũng khuyến cáo các doanh nghiệp cần phải quản lý chặt chẽ các thay đổi về mặt nhân sự trong công ty để đảm bảo rằng nhân viên của họ chỉ được tiếp cận các thông tin cần thiết để thực hiện công việc của họ.
Người sử dụng không nên được phép truy cập nhiều hơn mức họ cần để thực hiện công việc, đó là mô hình mà chúng ta nên nghĩ đến.
Mọi người nghĩ chuyện mất mát thông tin chỉ xảy ra ở mạng lưới của các công ty bị đánh cắp dữ liệu vốn có hệ thống, hạ tầng bảo mật kém. Nguyên nhân có thể đến từ bên ngoài, nhưng chúng cũng có thể bắt nguồn từ bên trong bởi những lỗi của các nhân viên.
Hiện nay, nhiều người vẫn nghĩ an ninh, bảo mật là ở máy chủ, là mạng thế nhưng, hệ thống bị tấn công thì không loại trừ bất kỳ sản phẩm nào, bất kỳ bạn là ai. Rất nhiều khách hàng khi t.m đến với chúng tôi đã từng gặp phải những vấn đề nằm ngay ở chính những thiết bị cầm tay như điện thoại di động chẳng hạn. Những điều mà có lẽ ít khi họ ngờ tới. Bởi vậy, tầm nhìn, dự đoán và cảnh báo là điều mà tất cả chúng ta luôn phải lưu ..
ông Chuck Trent, Phó Chủ tịch Tập đoànPhụ trách CNTT khu vực châu Á - TBD và Nhật Bản tập đoàn Cisco System
8. Cảnh báo của KPMG về thất thoát dữ liệu năm 2009
Theo dữ liệu thống kê của KPMG số lượng người dùng bị ảnh hưởng bởi việc mất dữ liệu có thể tăng gấp đôi trong năm 2009. Theo phân tích, 190 triệu người trên toàn cầu có thể bị ảnh hưởng của việc mất dữ liệu trong năm nay, so với 92 triệu người trong năm 2008. Trong đó thiết bị di động và các công ty cung cấp dịch vụ tiện ích trong mạng di động đang là điểm nhấn thu hút sự chú . của các băng nhóm tội phạm mạng. KPMG đưa ra dự đoán ảm đạm này dựa trên những thông tin công khai về các sự cố mất dữ liệu tại các doanh nghiệp trên thế giới trong ba tháng cuối năm 2008. Trong suốt khoảng thời gian này số người bị ảnh hưởng bởi sự cố mất dữ liệu (47,8 triệu) nhiều hơn cho tám tháng đầu tiên trong năm cộng lại. Malcolm Marshall thành viên của KPMG cho biết: "Dữ liệu bị mất đang có xu hướng gia tăng trong năm 2009. Với áp lực khủng hoảng kinh tế gia tăng trong năm 2008 tạo ra sự thiếu hụt ngân sách trầm trọng trong việc đầu tư cho hệ thống bảo mật sẽ đẩy các công ty càng gần với những nguy cơ mất dữ liệu và hậu quả thiệt hại của nó là hoàn toàn không thể dự đoán được”. Marshall cũng cho biết thêm rằng những lĩnh vực như ngân hàng, có khả năng chống đỡ tốt sẽ không có nguy cơ cao. Thống kê ban đầu của KPMG cho thấy có 427 báo cáo sự cố mất dữ liệu trong năm 2008, so với 412 năm 2007. Theo hồ sơ, nhóm nước nguy cơ cao là Vương quốc Anh, Mỹ, Đức, Hàn Quốc và Chile chiếm 91% người dùng bị ảnh hưởng trên toàn thế giới trong năm ngoái.
Thanh Sơn (tổng hợp)
Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 23 Tháng 10 2009 10:12 )
Từ mã hóa dữ liệu
Thứ sáu, 23 Tháng 10 2009 10:00
tran thuy duong
Ngày nay việc sao chép dữ liệu và truyền đi khắp thế giới chỉ cần một cú click chuột. Do vậy các phương thức kiểm soát dữ liệu cũ không đảm bảo an toàn đã trở thành những khái niệm lỗi thời
Các phương thức mã hóa chính
Ở kỉ nguyên kĩ thuật số, dữ liệu phải được mã hóa không chỉ khi được lưu trên các thiết bị lưu trữ hay khi được truyền đi trên đường truyền mà còn phải được mã hóa ngay sau khi khởi tạo. Mỗi một phương thức mã hóa đều có những ưu và nhược điểm riêng. Việc lựa chọn phương thức mã hóa nào phụ thuộc vào hạ tầng hệ thống, dữ liệu hiện có cũng như chiến lược phát triển của mỗi tổ chức. Hiện nay có 3 phương thức mã hóa chính: Dữ liệu có thể được mã hóa ngay khi được tạo ra (Host-based encryption), khi được truyền qua mạng LAN (Appliance-based encryption) hay được mã hóa khi lưu trên các thiết bị lưu trữ (Device-based encryption). Host-base encryption Với host-based hay server-based encyption, dữ liệu được mã hóa tại thời điểm dữ liệu được khởi tạo cung cấp mức độ bảo mật dữ liệu cao nhất có thể. Vì dữ liệu được mã hóa ngay khi khởi tạo nên không có cơ hội để xâm hại dữ liệu chưa mã hóa (bản rõ dữ liệu). Dữ liệu đã được mã hóa dù bị ăn trộm cũng không thể đọc được và trở thành vô giá trị.
Có bảo mật dữ liệu nghĩa là bạn có thể hướng hoạt động kinh doanh tới các mạng lưới liên kết và những lợi ích mà chúng đem lại một cách an toàn. Bạn cũng có thể yên tâm tìm nguồn dịch vụ rẻ hơn ở những nơi như Ấn độ hoặc chọn Trung Quốc để phát triển hoạt động kinh doanh vì dữ liệu của bạn đã được bảo vệ an toàn. Bạn có thể tự tin điều hành với những nhu cầu khác nhau cho vấn đề bảo vệ dữ liệu trong phạm vi cho phép.
Jamie Cowper – Giám đốc kinh doanh EMEA của PGP
Appliance-base encryption Với appliance-based encryption, dữ liệu được mã hóa khi đi qua thiết bị mã hóa được đặt trên đường truyền từ nơi dữ liệu được khởi tạo tới đích. Phương thức này bảo vệ dữ liệu ở lớp mạng, triển khai các đặc tính bảo mật trên các liên kết mạng LAN hoặc SAN với các thiết bị mã hóa hoặc các thiết bị chuyển mạch. Dữ liệu rời khỏi máy chủ dưới dạng bản rõ được đưa vào một thiết bị mã hóa đặc biệt. Sau khi được mã hóa, dữ liệu được truyền vào môi trường mạng LAN để tới đích hoặc được lưu trên thiết bị lưu trữ.
Việc mã hóa dữ liệu là 1 việc rất cần thiết và quan trọng, dữ liệu sau khi được mã hóa sẽ có mức độ rủi ro thấp hơn, mã hóa chính là mức bảo vệ cao nhất đối với dữ liệu, giúp cho thông tin không bị lộ và nâng cao độ an toàn trong các giao dịch truyền tải thông tin.
ông Trịnh Đình Tiệp, chuyên viên IT công ty chứng khoán VBCS
Device-based encryption Dữ liệu trước khi lưu trữ có thể được m. hóa trên một bộ điều khiển đĩa cứng, một máy chủ lưu trữ xác định, hay một vùng lưu trữ dữ liệu có tính năng mã hóa dữ liệu được dựng sẵn trong nền tảng phần cứng.
Mã hóa là giải pháp tốt để bảo vệ dữ liệu của mỗi doanh nghiệp trước khi nguy cơ bị đánh cắp thông tin quan trọng trong lưu trữ cũng như truyền tải dữ liệu. Nhưng trong lĩnh vực bảo mật nói chung và mã hóa nói riêng, không có phương án nào có thể coi là an toàn tuyệt đối. Bạn có thể phải cân nhắc thêm những giải pháp khác để nâng cao mức độ bảo mật cho dữ liệu của bạn.
Bảo mật dữ liệu ảo
Thứ tư, 21 Tháng 10 2009 11:50
tran thuy duong
Thật khó để thoát khổi làn sóng của công nghệ ảo hóa đang lan tràn trong các lĩnh vực và trong mọi doanh nghiệp. Với khả năng tiết kiệm chi phí đứng đầu danh sách, lý do để áp dụng công nghệ này hết sức thuyết phục. Tuy nhiên để có thể giải quyết vấn đề quan trọng trong việc thiết lập môi trường ảo hóa chúng ta cần xây dựng một kế hoạch bảo mật phù hợp và an toàn.
Hãy tưởng tượng: Bạn có một trung tâm dữ liệu với vài trăm máy chủ, nhiều máy trong số đó được thiết lập và điều chỉnh để thực hiện đầy đủ một công việc. Nhưng có khả năng một vài máy chủ chỉ được nạp rất ít - có lẽ chỉ chạy khoảng 50% công suất hoặc ít hơn. Với công nghệ ảo hóa hợp lý, ta có thể kết hợp nhiều trong số các máy đó, chuyển khối lượng công việc sang một phần cứng đơn lẻ. Và chúc mừng! Bạn sẽ phải dùng ít máy chủ, ít chi phí, ít bảo dưỡng, ít năng lượng và các đòi hỏi về điều hòa môi trường hơn, cùng với ít chi phí vốn hơn. Nhưng người sử dụng có lẽ gặp phải nhiều vấn đề bảo mật hơn. Với công nghệ ảo hóa, nhiều thách thức được đặt ra. Tại sao? Bởi mỗi cỗ máy là dữ liệu. Có nghĩa là, trong hầu hết kế hoạch ảo hóa, các cỗ máy ảo và bộ phận lưu trữ kèm theo là các phần ảo - chủ yếu là các thư mục. Những thư mục này được hồi phục lại ở trên cùng một lớp của phần mềm, gọi là nền ảo hóa, được sử dụng lần lượt bởi hệ điều hành hay phần mềm máy chủ. Với công nghệ ảo hóa, bạn có thể chuyển các máy ảo hay thư mục lưu trữ qua các host, backup chúng vào tape, hoặc copy chúng sang vùng phục hồi dữ liệu. 1. Không vội vàng Việc quá vội vàng khi tận dụng khả năng tiết kiệm chi phí và các lợi ích khác của điện toán ảo, các tổ chức đôi khi không để . tới vấn đề bảo mật đúng mức như họ lẽ ra nên làm. “Khi các công ty sử dụng công nghệ ảo hóa, có lẽ họ đã không nhận ra cho đến khi các công nghệ hiện có được sử dụng để bảo mật cho môi trường máy chủ của họ lại bị hứng chịu những vấn đề bảo mật mà họ chưa bao giờ gặp phải trong thế giới tự nhiên” Agastya của Trend Micro nói. Hãy lấy ví dụ từ chiếc máy ảo đang ngừng hoạt động (chiếc máy ảo ở chế độ nghỉ). Ở thế giới thực, một chiếc máy được tắt đi sẽ an toàn hết mức có thể. Nhưng trong thế giới ảo, khi một bộ máy tắt đi, nó vẫn có thể truy cập được - có nghĩa nó vẫn có thể truy cập được qua host (máy nền cài máy ảo trong ngôn ngữ ảo hóa được gọi là host ) như là một file. Bởi vậy mọi ứng dụng có thể truy cập tới host này cũng có thể truy cập tới chiếc máy ảo đang tắt, có khả năng ghi dữ liệu lên nó, và như vậy có thể làm hỏng nó. Nói theo cách khác, chiếc máy không thể tự bảo vệ m.nh bởi nó đang tắt và không thể kích hoạt các tính năng bảo vệ quan trọng như ứng dụng diệt virus, tường lửa. Lúc này, nó như một con vịt bị trói trước những ứng dụng xấu đã truy cập tới host. Phiên bản sắp tới các sản phẩm của Vmware và Microsoft có khả năng đề cập đến vấn đề này, nhưng ngay trước hết, các tổ chức với các công nghệ còn hạn chế hơn nên cảnh giác trước những nguy cơ này.
Ảo hóa đang là xu hướng công nghệ “nóng”. Sử dụng ảo hóa sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều chi phí như chi phí phần cứng, điện, hệ thống làm mát, chỗ đặt máy chủ ở nhà cung cấp dịch vụ Internet… Trước đây, các thành phần bảo mật trong một mạng máy tính thường được cài đặt trên những máy tính riêng. Ví dụ như tường lửa, phần mềm chống virus, chống thư rác có thể ở 3 máy khác nhau. Nhưng, sử dụng công nghệ ảo hóa, nhà quản trị hệ thống có thể gom chúng lại trong 1 máy với điều kiện cấu hình phần cứng cho phép.
ông Phùng Hải, trưởng ban An Toàn Mạng và Hệ Thống của chi hội phía Nam VNISA
2. Bảo mật thực và ảo Cho dù môi trường bạn sử dụng thực hay ảo, chúng vẫn có một số điểm tương đồng về bảo mật. Có ba điều cần phải lưu . khi chọn môi trường ảo: - Thứ nhất, vì một môi trường ảo phải có một nền ảo để các máy ảo chạy trên nên việc đảm bảo an toàn cho lớp nền ảo hóa là rất quan trọng. - Thứ hai, người sử dụng phải đảm bảo rằng các bộ máy ảo được tách biệt hẳn nhau, như vậy một chiếc bị sự cố sẽ không gây ảnh hưởng sang các bộ máy khác trong nền ảo. - Và thứ ba, người sử dụng nên kiểm soát các di chuyển và hoạt động xử lí dữ liệu đang xảy ra trên nền host thường xuyên.
Một trong những thứ mà ta cần biết trong đầu là ảo hóa cho phép bạn di chuyển máy ảo đi khắp nơi, vì vậy việc nắm bắt được vị trí của chúng là rất quan trọng. Các bộ máy ảo có thể di chuyển tới các host kém an toàn hơn. Vì vậy bạn phải đảm bảo việc có những danh giới an toàn giữa chúng.
Kevin Skapinetz, nhà nghiên cứu và chiến lược công nghệ tại hệ thống bảo mật internet IBM
May thay, công nghệ ảo hóa cho phép người sử dụng lựa chọn một môi trường quản lí chặt chẽ hơn, đặc biệt là khả năng theo dõi kỹ càng các hoạt động trên mỗi máy. “Nó giải quyết mọi mâu thuẫn trong các trở ngại liên quan đến việc quản lí” Becky Bace, chủ tịch và CEO của Infidel, một mạng lưới bảo mật chuyên cố vấn ở Scotts Valley, Calif nói “Bạn có thể quản lí một loại hoạt động nào đó, khóa hết mọi thứ c.n lại trong một máy áo mà không phải lo chặn dòng di chuyển ở nơi nào khác”. 3. Quản lí ảo Mấu chốt trong tất cả việc này là quản lí - đặc biệt là quản lí chính sách. Bảo mật ảo sẽ không hiệu quả nếu quản lí lỏng lẻo. Công nghệ được sử dụng để bảo mật các môi trường ảo cần chia sẻ các bảng điều khiển với quản lí thực ở các điểm cuối. Lần lượt các công nghệ bảo mật cho môi trường ảo cần được tích hợp với các bảng điều khiển được dùng để quản lí bộ máy ảo – có nghĩa là sự quản lí của môi trường ảo cần tích hợp với sự quản lí bảo mật máy ảo. Trên thực tế, các vần đề liên quan đến ảo hóa thường là các thao tác mang tính tổ chức hơn là liên quan đến lỗi kỹ thuật. Tất nhiên, nó phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp và mức độ lưu trữ của họ. Nếu bạn cần thiết kế và xây dựng một cơ sở hạ tầng IT ảo đồ sộ, bạn nên đảm bảo rằng bạn đã xây dựng và thiết kế hoạt động bảo mật trong đó. 4. Các tuân thủ ảo Các công cụ thực hiện tuân thủ các quy tắc về bảo mật cần được đẩy mạnh trong thế giới ảo. Ngày nay, phần lớn những thứ bạn cần để có một hệ thống bảo mật hợp lí đều có sẵn. Bạn có thể khóa dữ liệu lại, thực hiện ghi chép và theo dõi cho mục đích kiểm tra, và giữ các bản ghi chép quản lí dịch vụ về việc bạn đã tạo ra và hủy bỏ các môi trường như thế nào. Công nghệ ảo hóa đang trở nên phổ biến và ta có thể giải quyết nhiều vần đề quan trọng trong việc thiết lập môi trường ảo hóa với một kế hoạch phù hợp. Một kế hoạch triển khai kỹ lưỡng và cụ thể sẽ gây ra ít vấn đề bảo mật hơn. Và ít nhất, việc tiết kiệm chi phí đã hơn hẳn mọi khoản chi phí cho những biện pháp bảo mật hỗ trợ thêm.
Phan Thái (tổng hợp)
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 21 Tháng 10 2009 14:43 )